第dì二èr十shí九jiǔ课kè:我wǒ都dōu做zuò对duì了le


 

 

(一yī)我wǒ都dōu做zuò对duì了le

(考kǎo试shì以yǐ后hòu……)

玛mǎ丽lì:你nǐ今jīn天tiān考kǎo得de怎zěn么me样yàng?

罗luó兰lán:这zhè次cì没méi考kǎo好hǎo。题tí太tài多duō了le,我wǒ没méi有yǒu做zuò完wán。你nǐ做zuò完wán了le没méi有yǒu?

玛mǎ丽lì:我wǒ都dōu做zuò完wán了le,但dàn是shì没méi都dōu做zuò对duì,做zuò错cuò了le两liǎng道dào题tí,所suǒ以yǐ成chéng绩jì不bù会huì太tài好hǎo。

罗luó兰lán:语yǔ法fǎ题tí不bù太tài难nán,我wǒ觉jué得de都dōu做zuò对duì了le。听tīng力lì比bǐ较jiào难nán,很hěn多duō句jù子zi我wǒ没méi听tīng懂dǒng。

玛mǎ丽lì:我wǒ也yě不bù知zhī道dào做zuò对duì了le没méi有yǒu。我wǒ的de词cí典diǎn呢ne?

罗luó兰lán:我wǒ没méi看kàn见jiàn你nǐ的de词cí典diǎn。你nǐ找zhǎo词cí典diǎn干gàn什么shénme?

玛mǎ丽lì:我wǒ查chá一yī个gè词cí,看看kànkan写xiě对duì了le没méi有yǒu。……糟zāo糕gāo,写xiě错cuò了le,是shì这zhè个gè“得dé”,我wǒ写xiě成chéng这zhè个gè“的de”了le。

罗luó兰lán:别bié查chá了le,休xiū息xi休xiū息xi吧ba。快kuài打dǎ开kāi电diàn脑nǎo,看看kànkan你nǐ买mǎi的de电diàn影yǐng光guāng盘pán吧ba。

玛mǎ丽lì:我wǒ的de衣服yīfu还hái没méi有yǒu洗xǐ完wán呢ne,还hái得děi给gěi我wǒ妹mèi妹mèi回huí信xìn。

罗luó兰lán:看kàn完wán电diàn影yǐng再zài洗xǐ吧ba。

(1) Mình đều làm đúng cả rồi

(Sau khi thi xong…)

Mary: Hôm nay bạn thi thế nào?
Roland: Lần này mình thi không tốt lắm. Bài nhiều quá, mình không làm xong. Bạn làm xong chưa?

Mary: Mình làm xong hết rồi, nhưng không phải tất cả đều đúng. Mình làm sai hai câu, nên kết quả chắc sẽ không được tốt lắm.
Roland: Câu hỏi ngữ pháp không khó lắm, mình thấy mình làm đúng hết rồi. Phần nghe tương đối khó, rất nhiều câu mình không nghe hiểu.

Mary: Mình cũng không biết là mình làm đúng hay không nữa. Từ điển của mình đâu rồi?
Roland: Mình không thấy từ điển của bạn. Bạn tìm từ điển để làm gì vậy?

Mary: Mình tra một từ, xem là viết đúng hay chưa. … Ôi chết rồi, viết sai mất rồi, phải là chữ “得 (de)”, mình lại viết thành chữ “的 (de)”.
Roland: Đừng tra nữa, nghỉ ngơi một chút đi. Mau mở máy tính ra xem đĩa phim bạn mua đi.

Mary: Quần áo của mình vẫn chưa giặt xong, lại còn phải viết thư trả lời cho em gái mình nữa.
Roland: Xem phim xong rồi giặt cũng được mà.


 

 

(二èr)看kàn完wán电diàn影yǐng再zài做zuò作zuò业yè

吃chī完wán晚wǎn饭fàn,我wǒ和hé玛mǎ丽lì回huí到dào宿sù舍shè。玛mǎ丽lì说shuō,田tián芳fāng借jiè给gěi她tā了le一yī本běn书shū,书shū里lǐ都dōu是shì小xiǎo故gù事shì,很hěn有yǒu意yì思sī。我wǒ问wèn她tā,你nǐ看kàn完wán了le没méi有yǒu。她tā说shuō,还hái没méi看kàn完wán呢ne,才cái看kàn到dào三sān十shí页yè。

我wǒ问wèn玛mǎ丽lì“都dōu看kàn懂dǒng了le吗ma?”她tā回huí答dá:“有yǒu的de看kàn懂dǒng了le,有yǒu的de没méi看kàn懂dǒng。”“可kě以yǐ让ràng我wǒ看看kànkan吗ma?”“当dāng然rán可kě以yǐ。”

我wǒ看kàn了le两liǎng个gè故gù事shì,也yě觉jué得de很hěn有yǒu意yì思sī。看kàn到dào有yǒu意yì思sī的de地dì方fāng,就jiù想xiǎng笑xiào。我wǒ对duì玛mǎ丽lì说shuō“咱zán们men可kě以yǐ用yòng这zhè些xiē故gù事shì练liàn习xí会huì话huà。”玛mǎ丽lì说shuō:“怎zěn么me练liàn习xí?”

“我wǒ念niàn完wán一yī个gè故gù事shì,问wèn你nǐ几jǐ个gè问wèn题tí,看kàn你nǐ能néng不bù能néng答dá对duì;你nǐ念niàn完wán一yī个gè故gù事shì,也yě问wèn我wǒ几jǐ个gè问wèn题tí,看kàn我wǒ能néng不bù能néng答dá对duì。”玛mǎ丽lì说shuō:“这zhè是shì个gè好hǎo办bàn法fǎ。”

我wǒ念niàn了le一yī个gè故gù事shì,玛mǎ丽lì听tīng懂dǒng了le。问wèn了le她tā五wǔ个gè问wèn题tí,她tā都dōu答dá对duì了le。她tā念niàn了le一yī个gè故gù事shì,合hé上shàng书shū,问wèn我wǒ听tīng懂dǒng了le没méi有yǒu。我wǒ说shuō有yǒu的de地dì方fāng没méi听tīng懂dǒng,她tā打dǎ开kāi书shū,又yòu念niàn了le一yī遍biàn,我wǒ才cái听tīng懂dǒng。她tā也yě问wèn了le五wǔ个gè问wèn题tí,我wǒ答dá对duì了le四sì个gè,答dá错cuò了le一yī个gè。

我wǒ们men还hái没méi有yǒu练liàn习xí完wán,就jiù听tīng见jiàn安ān娜nà在zài门mén外wài叫jiào我wǒ们men。我wǒ开kāi开kāi门mén问wèn她tā:“什么shénme事shì?”“晚wǎn上shàng礼lǐ堂táng有yǒu电diàn影yǐng,你nǐ们men看kàn吗ma?”“什么shénme电diàn影yǐng?”“是shì个gè新xīn电diàn影yǐng,我wǒ不bù知zhī道dào叫jiào什么shénme名míng字zì。田tián芳fāng说shuō这zhè个gè电diàn影yǐng非fēi常cháng好hǎo。”

“想xiǎng看kàn。但dàn是shì我wǒ今jīn天tiān的de作zuò业yè还hái没méi有yǒu做zuò完wán呢ne,课kè文wén也yě读dú得de不bù太tài熟shú。”安ān娜nà说shuō:“我wǒ也yě没méi做zuò完wán呢ne,看kàn完wán电diàn影yǐng再zài做zuò吧ba。”说shuō完wán,我wǒ们men三sān个gè就jiù去qù礼lǐ堂táng看kàn电diàn影yǐng了le。我wǒ们men看kàn到dào九jiǔ点diǎn才cái看kàn完wán。九jiǔ点diǎn半bàn我wǒ才cái开kāi始shǐ做zuò作zuò业yè。做zuò完wán作zuò业yè已yǐ经jīng十shí点diǎn半bàn了le。

(2) Xem xong phim rồi làm bài tập

Ăn tối xong, tôi và Mary về ký túc xá. Mary nói rằng Điền Phương cho cô ấy mượn một quyển sách, trong sách toàn là những câu chuyện ngắn, rất thú vị. Tôi hỏi cô ấy đã đọc xong chưa. Cô ấy nói vẫn chưa đọc xong, mới đọc đến trang 30.

Tôi hỏi Mary: “Đã hiểu hết chưa?”. Cô ấy trả lời: “Có chỗ hiểu rồi, có chỗ vẫn chưa hiểu.” “Tôi xem thử được không?” “Tất nhiên là được.” 

Tôi đọc hai câu chuyện, cũng thấy rất thú vị. Gặp chỗ hay là lại muốn cười. Tôi nói với Mary: “Chúng ta có thể dùng những câu chuyện này để luyện hội thoại.” Mary nói: “Luyện thế nào?”

“Tôi đọc xong một câu chuyện thì hỏi bạn mấy câu, xem bạn có trả lời đúng không; bạn đọc xong một câu chuyện cũng hỏi tôi mấy câu, xem tôi có trả lời đúng không.” Mary nói: “Đây là một cách hay.”

Tôi đọc một câu chuyện, Mary nghe hiểu. Tôi hỏi cô ấy năm câu, cô ấy đều trả lời đúng. Cô ấy đọc một câu chuyện khác, gấp sách lại rồi hỏi tôi có nghe hiểu không. Tôi nói có vài chỗ chưa nghe hiểu, cô ấy mở sách ra đọc lại một lần nữa, lúc đó tôi mới nghe hiểu. Cô ấy cũng hỏi tôi năm câu, tôi trả lời đúng bốn câu, sai một câu.

Chúng tôi vẫn chưa luyện xong thì nghe thấy Anna gọi chúng tôi ngoài cửa. Tôi mở cửa ra hỏi cô ấy: “Có chuyện gì vậy?” “Tối nay ở hội trường có chiếu phim, các bạn có xem không?” “Phim gì vậy?” “Là phim mới, mình không biết tên. Điền Phương nói bộ phim này rất hay.”

“Muốn xem lắm, nhưng bài tập hôm nay mình vẫn chưa làm xong, bài khóa cũng chưa đọc thuộc lắm.” Anna nói: “Mình cũng chưa làm xong, xem xong phim rồi làm tiếp nhé.” Nói xong, ba chúng tôi liền đi hội trường xem phim. Chúng tôi xem đến chín giờ mới xem xong. Chín giờ rưỡi tôi mới bắt đầu làm bài tập. Làm xong bài tập thì đã mười giờ rưỡi rồi.