Bài khóa Bài 8 “朝三暮四”的古今义 (pinyin, dịch)
成语是汉语中非常有特点的一部分词汇 。 成语有固定的结构,不能随便更改;意义是整体性的,不是每个字意思的简单相加,而是综合起来表 达一个完整的意思。
Thành ngữ là một bộ phận từ vựng rất đặc trưng trong tiếng Hán. Thành ngữ có cấu trúc cố định, không thể tùy tiện thay đổi; ý nghĩa mang tính chỉnh thể, không phải là sự cộng gộp đơn giản ý nghĩa của từng chữ, mà là tổng hợp lại để biểu đạt một ý nghĩa hoàn chỉnh.
一般来说,成语的意义也是稳定 的,很少发生变化,比如我们学过的 “盲人摸象”和“精诚所至,金石为开” 。 但也有古今不同的,像我们今 天要学习的“朝三暮四” 。
Nói chung, ý nghĩa của thành ngữ cũng tương đối ổn định, rất ít khi thay đổi, ví dụ như những thành ngữ chúng ta đã học là “Người mù sờ voi” và “Tinh thành thì đá cũng mở”. Nhưng cũng có những thành ngữ mà nghĩa xưa và nay khác nhau, như thành ngữ “Sáng ba chiều bốn” mà hôm nay chúng ta sẽ học.
中国古代有一位哲学家,在他的 书中讲了这样一个寓言故事:
Trung Quốc cổ đại có một nhà triết học, trong sách của ông có kể một câu chuyện ngụ ngôn như sau:
从前有位老人,喂养了一群猴 子当宠物 。 相处久了,彼此居然可以 从表情、声音和行为举止中了解对方 的意思 。
Ngày xưa có một ông lão nuôi một bầy khỉ làm thú cưng. Sống với nhau lâu ngày, hai bên thậm chí có thể hiểu được ý của nhau thông qua nét mặt, âm thanh và cử chỉ hành động.
猴子太多,每天要吃大量的瓜果、蔬菜和粮食 。 然而,一个普通的 家庭,财产不多,哪有那么大的财力满足一群猴子对食物的长期需要呢? 老人甚至必须减少家人的消费,好节省些食物拿去喂养猴子 。他注意到该限制猴子的食量了 。
Khỉ quá nhiều, mỗi ngày phải ăn một lượng lớn hoa quả, rau củ và lương thực. Thế nhưng một gia đình bình thường thì của cải chẳng có bao nhiêu, làm sao có đủ khả năng tài chính để lâu dài đáp ứng nhu cầu ăn uống của cả bầy khỉ chứ? Ông lão thậm chí còn phải cắt giảm chi tiêu của gia đình để tiết kiệm lương thực mang đi nuôi khỉ. Ông nhận ra rằng đã đến lúc phải hạn chế lượng thức ăn của khỉ.
问题是,猴子不像猪、狗,吃不饱时仅仅只是叫叫,它们如果得不 到好的待遇,就会像一群调皮的孩 子,经常跟人淘气 。老人的朋友送给他很多橡子, 这是一种猴子爱吃的果实 。 在其他 粮食不足的情况下,用橡子喂猴子倒是个办法。
Vấn đề là khỉ không giống như lợn hay chó, khi ăn không no thì chỉ kêu vài tiếng; nếu không được đối xử tốt, chúng sẽ giống như một đám trẻ nghịch ngợm, thường xuyên quấy phá con người. Bạn của ông lão tặng cho ông rất nhiều quả sồi, đây là loại quả mà khỉ rất thích ăn. Trong tình huống các loại lương thực khác không đủ, dùng quả sồi để nuôi khỉ cũng là một cách.
于是老人对猴子们 说: “今后你们除了吃馒头, 还可以再吃一些橡子。我早上给你们三颗,晚上给四颗。 ”
Thế là ông lão nói với bầy khỉ: “Sau này ngoài bánh màn thầu ra, các ngươi còn có thể ăn thêm một ít quả sồi. Buổi sáng ta cho các ngươi ba quả, buổi tối cho bốn quả.”
猴子们似乎只弄懂了主人前面 说的一个 “三”,觉得自己吃了亏, 一个个立起身子跳来跳去,对着老人 大喊大叫地发脾气 。
Bầy khỉ dường như chỉ nghe hiểu chữ “ba” mà chủ nói lúc đầu, cảm thấy mình bị thiệt thòi, từng con một đứng bật dậy nhảy nhót, vừa la hét vừa tức giận với ông lão.
老人见猴子们不接受,就换了 一种方式,安慰它们说道: “要不这样吧,既然你们觉得少,那就改成每天早上四颗,晚上三颗,这样总够了吧? ”
Thấy khỉ không chấp nhận, ông lão liền đổi cách nói, an ủi chúng rằng: “Hay là thế này nhé, nếu các ngươi thấy ít, thì đổi thành mỗi ngày sáng bốn quả, tối ba quả, như vậy tổng cộng cũng đủ rồi chứ?”
猴子把主人前面说的一个“四”当成全天多得了的橡子 ,所以马上安静下来,显得格外开心。老人看着这情景,哈哈地笑了 。
Bầy khỉ coi chữ “bốn” mà chủ nói lúc đầu là số quả sồi được nhiều hơn trong cả ngày, nên lập tức yên tĩnh lại, trông vô cùng vui vẻ. Ông lão nhìn cảnh ấy mà cười ha hả.
哲学家用这个故事告诉人们,不要太关心生死、得失,因为到最后 我们会发现没有失去什么,也没有得到什么。不过,发展到今天 , “朝三暮四”这个成语的意义已经完全改变了。你知道它现在是什么意思吗?
Nhà triết học dùng câu chuyện này để nói với mọi người rằng, đừng quá để tâm đến sống chết, được mất, bởi vì đến cuối cùng chúng ta sẽ phát hiện ra rằng mình chẳng mất gì, cũng chẳng được gì. Tuy nhiên, phát triển đến ngày nay, ý nghĩa của thành ngữ “Sáng ba chiều bốn” đã hoàn toàn thay đổi. Bạn có biết bây giờ nó mang ý nghĩa gì không?