文wén文wén从cóng小xiǎo是shì个gè乖guāi乖guāi女nǚ,学xué习xí刻kè苦kǔ,遵zūn守shǒu纪jì律lǜ。大dà事shì小xiǎo事shì,尽jǐn管guǎn妈mā妈mā表biǎo示shì也yě要yào征zhēng求qiú她tā的de意yì见jiàn,但dàn上shàng哪nǎ所suǒ学xué校xiào、念niàn什shén么me专zhuān业yè,甚shèn至zhì跟gēn什shén么me人rén交jiāo朋友péngyou,基jī本běn上shàng都dōu是shì妈mā妈mā说shuō了le算suàn。

Văn Văn từ nhỏ là một cô bé ngoan ngoãn, học hành chăm chỉ, tuân thủ kỷ luật. Dù là việc lớn hay việc nhỏ, tuy mẹ nói cũng sẽ hỏi ý kiến cô, nhưng chuyện học trường nào, chọn ngành gì, thậm chí kết bạn với ai, về cơ bản đều do mẹ quyết định.

可kě是shì到dào了le大dà学xué阶jiē段duàn,亲qīn爱ài的de女nǚ儿ér竟jìng然rán违wéi反fǎn了le乖guāi乖guāi女nǚ的de各gè种zhǒng规guī矩jǔ,越yuè来lái越yuè有yǒu自zì己jǐ的de主zhǔ见jiàn,越yuè来lái越yuè能néng干gàn、独dú立lì了le。尽jǐn管guǎn她tā的de成chéng绩jì仍réng然rán是shì第dì一yī名míng,但dàn她tā不bù再zài甘gān于yú当dāng“好hǎo学生xuésheng”:她tā逃táo课kè去qù听tīng各gè种zhǒng讲jiǎng座zuò,出chū席xí欧ōu盟méng商shāng会huì的de鸡jī尾wěi酒jiǔ会huì,做zuò志zhì愿yuàn者zhě,拍pāi电diàn影yǐng,学xué摄shè影yǐng,泡pào酒jiǔ吧ba,参cān加jiā了le学生xuésheng会huì并bìng担dān任rèn了le学生xuésheng会huì主zhǔ席xí,还hái组zǔ织zhī各gè种zhǒng社shè会huì活huó动dòng。妈mā妈mā以yǐ前qián要yào她tā当dāng外wài交jiāo官guān的de计jì划huà,在zài她tā眼yǎn里lǐ“实shí在zài没méi什shén么me意yì思sī”,她tā觉jué得de经jīng商shāng才cái是shì自zì己jǐ的de目mù标biāo。

Thế nhưng đến giai đoạn đại học, cô con gái thân yêu lại phá vỡ mọi “quy tắc” của một cô bé ngoan, ngày càng có chính kiến riêng, ngày càng giỏi giang và độc lập hơn. Dù thành tích học tập vẫn luôn đứng đầu, cô không còn cam tâm làm một “học sinh ngoan” nữa: cô trốn tiết để đi nghe các buổi tọa đàm, tham dự tiệc cocktail của Phòng Thương mại Liên minh châu Âu, làm tình nguyện viên, quay phim, học nhiếp ảnh, đi bar, tham gia hội sinh viên và còn giữ chức chủ tịch hội, đồng thời tổ chức nhiều hoạt động xã hội. Kế hoạch trước đây của mẹ muốn cô trở thành nhà ngoại giao, trong mắt cô “thật chẳng có gì thú vị”, cô cho rằng kinh doanh mới là mục tiêu của mình.

她tā放fàng弃qì了le本běn系xì保bǎo送sòng研yán究jiū生shēng、放fàng弃qì了le各gè种zhǒng工gōng作zuò的de面miàn试shì,坚jiān持chí要yào去qù国guó外wài留liú学xué,结jié果guǒ12所suǒ世shì界jiè名míng牌pái大dà学xué录lù取qǔ了le她tā。当dāng面miàn临lín是shì否fǒu选xuǎn择zé牛niú津jīn大dà学xué,她tā们men全quán家jiā开kāi会huì,爸bà爸bà妈mā妈mā认为rènwéi应yīng该gāi去qù,但dàn文wén文wén跟gēn他tā们men的de意yì见jiàn不bù致zhì,她tā坚jiān持chí要yào去qù美měi国guó。

Cô từ bỏ cơ hội được giữ lại học cao học tại khoa, từ bỏ các buổi phỏng vấn việc làm, kiên quyết muốn đi du học nước ngoài. Kết quả là cô nhận được thư báo trúng tuyển của 12 trường đại học danh tiếng hàng đầu thế giới. Khi đứng trước lựa chọn có nên vào Đại học Oxford hay không, cả nhà đã họp bàn; bố mẹ cho rằng nên đi, nhưng Văn Văn không đồng ý, cô kiên quyết muốn sang Mỹ.

这zhè一yī次cì妈mā妈mā让ràng步bù了le。她tā隐yǐn隐yǐn约yuē约yuē觉jué得de:自zì己jǐ该gāi完wán全quán放fàng手shǒu了le。没méi想xiǎng到dào,正zhèng是shì妈mā妈mā的de放fàng手shǒu,让ràng风fēng筝zhēng越yuè飞fēi越yuè高gāo。

Lần này, người mẹ đã nhượng bộ. Bà mơ hồ cảm thấy: có lẽ đã đến lúc mình phải hoàn toàn buông tay. Không ngờ chính sự buông tay ấy của mẹ lại khiến “cánh diều” bay càng lúc càng cao.

几jǐ年nián后hòu,文wén文wén在zài美měi国guó工gōng作zuò,妈mā妈mā去qù洛luò杉shān矶jī看kàn她tā。在zài这zhè个gè陌mò生shēng的de地方dìfang,妈mā妈mā感gǎn到dào她tā们men好hǎo像xiàng交jiāo换huàn了le某mǒu种zhǒng身shēn份fèn:自zì己jǐ倒dào像xiàng女nǚ儿ér,而ér文wén文wén倒dào像xiàng妈mā妈mā。她tā们men建jiàn立lì了le一yī种zhǒng新xīn的de关guān系xì。

Vài năm sau, Văn Văn làm việc ở Mỹ, mẹ sang Los Angeles thăm con. Ở nơi xa lạ này, người mẹ cảm thấy giữa hai người dường như đã hoán đổi một vai trò nào đó: bà lại giống như con gái, còn Văn Văn lại giống như người mẹ. Họ xây dựng nên một mối quan hệ mới.

最zuì初chū,妈mā妈mā哪儿nǎr也yě不bù敢gǎn去qù,不bù能néng单dān独dú出chū门mén,不bù能néng与yǔ人rén沟gōu通tōng,什shén么me都dōu要yào靠kào女nǚ儿ér。后hòu来lái文wén文wén工gōng作zuò忙máng,就jiù给gěi她tā地dì图tú、车chē钥yào匙shi、机jī票piào,鼓gǔ励lì她tā自zì己jǐ出chū去qù。从cóng家jiā门mén口kǒu的de超chāo市shì开kāi始shǐ,妈mā妈mā越yuè走zǒu越yuè远yuǎn,最zuì后hòu竟jìng然rán独dú自zì把bǎ美měi国guó横héng穿chuān了le一yī遍biàn。她tā说shuō,是shì女nǚ儿ér的de“放fàng手shǒu”,让ràng她tā走zǒu得de更gèng远yuǎn。做zuò妈mā妈mā的de,这zhè才cái算suàn是shì真zhēn正zhèng明míng白bái了le“放fàng手shǒu”的de重zhòng要yào。

Ban đầu, người mẹ chẳng dám đi đâu, không thể ra ngoài một mình, không thể giao tiếp với người khác, việc gì cũng phải dựa vào con gái. Sau đó Văn Văn bận công việc, liền đưa cho mẹ bản đồ, chìa khóa xe, vé máy bay, khuyến khích bà tự mình ra ngoài. Bắt đầu từ siêu thị ngay trước cửa nhà, người mẹ đi ngày càng xa hơn, cuối cùng thậm chí còn một mình đi xuyên ngang nước Mỹ. Bà nói, chính sự “buông tay” của con gái đã giúp bà đi được xa hơn. Làm mẹ đến lúc ấy mới thật sự hiểu được tầm quan trọng của hai chữ “buông tay”.

2010年nián3月yuè的de一yī个gè夜yè晚wǎn,母mǔ女nǚ俩liǎ躺tǎng在zài夏xià威wēi夷yí的de沙shā滩tān上shàng谈tán心xīn。妈mā妈mā第dì一yī次cì为wèi以yǐ前qián对duì女nǚ儿ér的de“不bù放fàng手shǒu”而ér道dào歉qiàn。文wén文wén沉chén默mò了le很hěn久jiǔ,最zuì后hòu吻wěn了le妈mā妈mā一yī下xià,轻qīng轻qīng地de说shuō:“妈mā妈mā,我wǒ真zhēn的de很hěn喜xǐ欢huān现xiàn在zài的de你nǐ。”妈mā妈mā忍rěn𣎴住zhù流liú下xià了le眼yǎn泪lèi。她tā说shuō:“幸xìng亏kuī那nà晚wǎn天tiān色sè很hěn暗àn。

Một đêm tháng Ba năm 2010, hai mẹ con nằm trên bãi biển Hawaii tâm sự. Lần đầu tiên, người mẹ xin lỗi vì trước đây đã “không chịu buông tay” với con gái. Văn Văn im lặng rất lâu, cuối cùng hôn mẹ một cái và khẽ nói: “Mẹ ơi, con thật sự rất thích mẹ của hiện tại.” Người mẹ không kìm được nước mắt. Bà nói: “May mà đêm hôm ấy trời rất tối.”

改gǎi编biān自zì《中国ZhōngGuó青qīng年nián报bào》,作zuò者zhě:从cóng玉yù华huá

Phỏng theo Báo Thanh niên Trung Quốc, tác giả: Tòng Ngọc Hoa